Người đóng góp cho blog

Được tạo bởi Blogger.

Lưu ý về vi phạm tên doanh nghiệp với quyền sở hũu công nghiệp

Với bất cứ doanh nghiệp nào khi tiến hành thủ tục đặt tên doanh nghiệp cần hết sức lưu ý về những quy định liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp.
Nội dung đó như thé nào sẽ được những chuyên viên tư vấn của việt luật hỗ trợ và hướng dẫn chi tiết nhất.
Nội dung cụ thể như sau.
Xử lý đối với trường hợp tên doanh nghiệp xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
Không được sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý của tổ chức, cá nhân đã được bảo hộ để cấu thành tên riêng của doanh nghiệp, trừ trường hợp được sự chấp thuận của chủ sở hữu tên thương mại, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đó. Trước khi đăng ký đặt tên doanh nghiệp, người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp có thể tham khảo các nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đã đăng ký và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu về nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý của cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp.
Căn cứ đê xác định tên doanh nghiệp xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp được thực hiện theo các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Doanh nghiệp phải tự chịu ừách nhiệm trước pháp luật nếu đặt tên doanh nghiệp xâm phạm quyên sở hữu công nghiệp, Trường họp tên doanh nghiệp xâm phạm CỊuỵển sở hưu công nghiệp thì doanh nghiệp có tên vi phạm phải đăng ký đôi tên.
Chủ thê quyen sở, hữu công nghiệp có quyền đề nghị Phòng Đăng ký kinh doanh yêu câu doanh nghỉệp có tên xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp phải thay đôi tên gọi cho phù hợp. Chủ thể quyền sở hữu công nghiệp có nghĩa vụ cung câp cho Phòng .Đăng, ký kinh doanh các tài liệu cần thiết theo quy định tại Khoản 4 Điều này.
Phòng Đăng.kỷ kinh doanh, ra Thông báo yêu cầu doanh nghiệp xâm phạm đôi tên dơanh nghiệp khi nhận được thông báo của chủ thể quyền sở hữu công nghiẹp vê việc quyền 'SỞ hữu công nghiệp bị xâm phạm. Kèm theo thông báo của chử thê quyền sử hữu công nghiệp phải có:
Bản sao hợp lệ văn bản kết ỉuận của cơ quan có thẩm quyền về việc sử dụng tên doanh nghiệp ỉà xâm phạm quyền sở hưu công nghiệp;
Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, Giấy chứng nhận đãng ký chỉ dân địa lý; bản trích lục sổ đăng ký quốc gia về nhãn hiệu, chỉ dân địa lý được bảo hộ do cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp câp; bản sao họp lệ Giấy chứng nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam do cơ quan quản lý nhà nước vê sở hữu công nghiệp câp.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ giấy tờ theo quy định tại Khoản 4 Điều này, Phòng Đăng ký kinh doaiìh ra Thông báo yêu câu doanh nghiệp có tên xâm phạm đổi tên doanh nghiệp và tiên hành thủ tục thay đổi tên trong thời hạn 02 tháng, kể từ ngày ra Thông báo. Sau thời hạn trên, nếu doanh nghiệp không thay đổi tên theo yêu cầu, Phòng Đãng ký kinh doanh thông báo cho ca quan nhà nước có thẩm quyền để xừ lý theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Trường hợp cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, theo đó áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc thay đổi tên doanh nghiệp hoặc buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trong tên doanh nghiệp nhưng tổ chức, cá nhân vi phạm không thực hiện ữong thời hạn do pháp luật quy định thì cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm thông báo cho Phòng Đăng ký kinh doanh để yêu cầu doanh nghiệp báo cáo giải trình theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 209 Luật Doanh nghiệp. Trường hợp doaiứi nghiệp không báo cáo, Phòng Đăng ký kinh doanh thực hiện thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 211 Luật Doanh nghiệp.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn chi tiết Điều này.

Tư vấn đầu tư dụ án trong nước

Việt Luật tư vấn thủ tục đầu tư với các dự án trong nước cụ thể như sau :
du-an-dau-tu-trong-nuoc

1. Nhà đầu tư trong nước phải đăng ký đầu tư đối với dự án đầu tư trong nước có quy mô vốn đầu tư từ 15 tỷ đồng Việt Nam đến dưới 300 tỷ đồng Việt Nam và thuộc các trường hợp sau:
a) Dự án không thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện;
b) Dự án không thuộc các dự án đầu tư không phân biệt nguồn vốn, quy mô đầu tư;
2. Nhà đầu tư đăng ký đầu tư tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ dự án đầu tư;
3. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ dự án đầu tư trao giấy biên nhận ngay sau khi nhận được văn bản đăng ký đầu tư.
4. Trường hợp nhà đầu tư có yêu cầu cấp Giấy chứng nhận đầu tư hoặc  xác nhận ưu đãi đầu tư thì cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư căn cứ vào nội dung văn bản đăng ký đầu tư để cấp Giấy chứng nhận đầu tư trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đăng ký đầu tư hợp lệ.
5. Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đầu tư, cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư sao gửi Giấy chứng nhận đầu tư đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ quản lý ngành và các cơ quan có liên quan.
Thông tin liên hệ 
Công ty tư vấn Việt Luật 
Số 126 - Phố Chùa Láng - Đống Đa - Hà Nội
Email:congtyvietluathanoi@gmail.com
Hotline : 0965 999 345 - 0938 234 777 

Nội dung trong giấy chứng nhận đầu tư Việt Nam

noi-dung-giay-chung-nhan-dau-tu

1. Mẫu Giấy chứng nhận đầu tư do Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc.
2. Giấy chứng nhận đầu tư bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
a) Tên, địa chỉ của nhà đầu tư;
b) Địa điểm thực hiện dự án đầu tư; nhu cầu diện tích đất sử dụng;
c) Mục tiêu, quy mô dự án đầu tư;
d) Tổng vốn đầu tư;
đ) Thời hạn thực hiện dự án;
e) Tiến độ thực hiện dự án đầu tư;
g) Xác nhận các ưu đãi và hỗ trợ đầu tư (nếu có).
Thông tin liên hệ tư vấn 
Công ty tư vấn Việt Luật 
Số 126 - Phố Chùa - Đống Đa - Hà Nội
Email: congtyvietluathanoi@gmail.com
Hotline : 0965 999 345 - 0938 234 777 

Huy động vốn cho nhà đầu tư bất động sản

Theo Hiệp hội Bất động sản, ngoài các vấn đề bất cập về trường pháp lý, cơ chế chính sách, quản lý nhà nước, tác động của các thị trường vàng, chứng khoán… thì vấn đề vốn đang được xem là bài toán nan giải nhất của các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản.
dau-tu-nuoc-ngoai

Huy động vốn cho bất động sản sẽ không còn là chuyện quá khó nếu chúng ta biết chọn đúng con đường.
Theo thống kê, hiện nay tiềm lực tài chính của hầu hết doanh nghiệp kinh doanh bất động sản vẫn còn hạn chế nên vẫn phải phụ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng. Ước tính, số vốn đầu tư vào bất động sản ở nước ta hiện nay có tới hơn 60% là vốn vay ngân hàng.
Có nhiều dự án, tỷ lệ cho vay lên tới 70 - 80% tổng vốn đầu tư, với thời hạn 10 - 15 năm.
Chẳng hạn, năm 2008, tổng dư nợ cho vay vào lĩnh vực bất động sản tại Tp.HCM đã lên tới trên 29.000 tỷ đồng, chiếm 15% tổng dư nợ, tại Hà Nội là trên 9.000 tỷ đồng, chiếm 10% tổng dư nợ. Trong khi đó, tỷ lệ nợ xấu lại đang có xu hướng tăng lên theo dư nợ cho vay đầu tư bất động sản của các ngân hàng.
Tính đến 30-6-2009, dư nợ cho vay với mục đích đầu tư kinh doanh bất động sản tăng khoảng 10,48% so với cuối năm 2008. Dư nợ cho vay đầu tư kinh doanh bất động sản tại 5 thành phố trực thuộc trung ương chiếm trên 70% dư nợ toàn quốc. Đặc biệt, TP.HCM chiếm 45% tổng doanh số cho vay BĐS toàn quốc, là địa phương dư nợ BĐS lớn nhất.
Tỉ lệ nợ xấu của hệ thống hiện ở mức 2,52% so với tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế, tăng 0,35% so với mức 2,17% vào cuối năm 2008. Điều nổi bật là tỉ lệ nợ xấu đối với mục đích đầu tư kinh doanh bất động sản luôn thấp hơn với mức nợ xấu bình quân chung. (Nguồn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn)

Nhiều chủ đầu tư dự án xem việc phát hành chứng chỉ bất động sản là khả thi và có nhiều ưu điểm hơn so với việc phát hành trái phiếu công trình.
Trước tình trạng trên, sau một thời gian “mở cửa” cho vay bất động sản thì hiện nay, các ngân hàng đã trở nên thận trọng hơn, từ chối nhiều dự án đầu tư kinh doanh bất động sản. Vì vậy, tốc độ tăng trưởng cho vay đầu tư bất động sản của hệ thống ngân hàng đã giảm từ 25% năm 2005, xuống còn 9% năm 2006 và trong năm 2007 là 6 -7%.
Như vậy, có thể thấy, việc huy động vốn của các doanh nghiệp bất động sản đang ngày một khó khăn hơn. Vì vậy, theo Hiệp hội Bất động sản, trong điều kiện thị trường bất động sản đang có nhiều biến động như hiện nay, các giải pháp huy động vốn cho đầu tư kinh doanh bất động sản cần được thực hiện theo các hướng sau:
Thứ nhất, tháo gỡ vướng mắc trong cho vay của ngân hàng đối với kinh doanh bất động sản.
Trong bối cảnh thị trường tài chính ở nước ta hiện nay, tín dụng ngân hàng vẫn sẽ là kênh cung cấp vốn chủ yếu cho các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản. Tuy nhiên, để việc huy động theo kênh này hiệu quả hơn cần phải tăng cường huy động vốn trung và dài hạn của các ngân hàng kết hợp với nâng tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn.
Đồng thời, cần phải thiết lập và nâng cao chất lượng các kênh thông tin về thị trường bất động sản để làm cơ sở cho các ngân hàng thẩm định dự án, đánh giá khả năng chi trả của các chủ đầu tư.
Hiện nay, Luật Đất đai chưa quy định việc xử lý giá trị quyền sử dụng đất thế chấp để thu hồi nợ, chưa có các quy định về căn cứ để xác định giao dịch bất động sản (hợp pháp) để cho vay cũng như những quy định về việc xác định giá trị tài sản là quyền sử dụng đất của các doanh nghiệp Nhà nước được giao đất trước đây nay chuyển sang thuê…đã khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn từ các ngân hàng.
Do đó, cần phải sớm hoàn thiện, chỉnh sửa và bổ sung một số quy định trong hệ thống pháp luật về đất đai, bất động sản để tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động cho vay đầu tư, kinh doanh vào bất động sản.


Thứ hai, cần "chứng khoán hóa" các dự án đầu tư kinh doanh bất động sản.
Hiện nay, lượng tiền nhà rỗi trong dân cư rất lớn nhưng việc thu hút đầu tư vào thị trường bất động sản vẫn còn hạn chế. Lý do là bởi sản phẩm bất động sản có giá trị lớn, trong khi vốn nhàn rỗi của người dân thường lại nhỏ lẻ nên khó có thể tham gia vào được. Do đó, giải pháp được xem là hữu hiệu nhất trong việc huy động vốn nhà rỗi chính là phải làm sao “chứng khoán hóa được các dự án bất động sản”.
Chứng khoán bất động sản là một loại chứng khoán đặc biệt, kết hợp giữa hình thức đầu tư chứng khoán và đầu tư bất động sản, được đảm bảo bằng giá trị bất động sản mà nó đại diện, đồng thời cho phép nhà đầu tư kiếm lời trên biến động giá trị của bất động sản này, nhưng không nhất thiết nắm giữ quyền sở hữu trực tiếp một phần hay toàn bộ bất động sản đó trong suốt quá trình sở hữu chứng khoán.
Theo PGS.TS Thái Bá Cẩn (Bộ Tài chính), hiện nay, nhiều chuyên gia kinh tế đang đề xuất việc phát hành chứng chỉ bất động sản nhằm giúp các doanh nghiệp thiếu vốn đầu tư thực hiện dự án nhà ở có được công cụ huy động vốn, đồng thời tạo thêm kênh đầu tư mới cho các tầng lớp dân cư.
Chứng chỉ bất động sản sẽ được chuyển nhượng tự do để tăng tính thanh khoản và ngân hàng sẽ đảm nhận giám sát việc giải ngân theo tiến độ thi công công trình. Khi hoàn thành dự án, toàn bộ bất động sản sẽ được đưa ra bán đấu giá và chia cho các nhà đầu tư theo tỷ lệ nắm giữ chứng chỉ.
Việc phát hành chứng chỉ bất động sản là khả thi và có nhiều ưu điểm hơn so với việc phát hành trái phiếu công trình. Đồng thời, chứng chỉ bất động sản cũng sẽ thu hút thêm nguồn vốn từ xã hội, nhất là các nhà đầu tư địa ốc chuyên nghiệp để tập trung vào các dự án trọng điểm, khai thông nguồn vốn cho thị trường bất động sản.
Thứ ba, hình thành quỹ đầu tư tín thác cho thị trường bất động sản.
Đây là mô hình mà nhà đầu tư ủy thác cho công ty quản lý quỹ đầu tư vốn vào bất động sản để kiếm lời. Quỹ sẽ hoạt động theo phương thức khai thác thị trường bất động sản, tìm cách sử hữu và điều hành khai thác bất động sản để tạo thu nhập, đồng thời có thể cho chủ sở hữu bất động sản hoặc những người khác vay tiền và cũng có thể mau lại các khoản nợ hoặc chứng khoán được đảm bảo bằng bất động sản…
Chứng chỉ quỹ đầu tư tín thác sẽ có tính chất nửa như trái phiếu, nửa như cổ phiếu và người nắm giữ được nhận lợi tức định kỳ nhưng không tham gia quản lý đầu tư.
Thứ tư, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực bất động sản.
Đây sẽ là một kênh huy động vốn cũng như kêu gọi đầu tư vào bất động sản khá hiệu quả nếu chúng ta biết tranh thủ thời cơ và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Các địa phương cần ban hành quy chế thu hút đầu tư nước ngoài vào bất động sản để có thể đảm bảo hoặc thanh toán chi phí xây dựng bên ngoài hàng rào, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, có chính sách một giá với các dịch vụ…
Đặc biệt, cơ quan quản lý phải công bố danh mục dự án phát triển bất động sản, kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài, thành lập công ty phát triển quỹ đất dảm trách việc chuẩn bị nguồn đất và làm dịch vụ công về bất động sản. Đồng thời phải thống nhất được với các nhà đầu tư về mức đền bù giải tỏa, tỷ lệ nhà được bán, mức giá, trách nhiệm xã hội .

Ngoài ra, trong điều kiện hiện nay, để huy động vốn phát triển các khu đô thị mới, khu kinh tế tập trung mới…có thể áp dụng các hình thức khác như mời các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản tham gia đấu giá đổi đất lấy cơ sở hạ tầng, kêu gọi các hộ dân trong diện giải phóng góp đất, vốn theo nghĩa như cổ đông trong các dự án kinh doanh bất động sản để hưởng cổ tức.
Bên cạnh đó, để tăng khả năng huy động vốn, cần có cơ chế cho phép các doanh nghiệpkinh doanh bất động sản được huy động vốn bằng cách bán sản phẩm, dịch vụ theo hình thức thu tiền trước nhưng phải đăng ký với cơ quan chức năng và do ngân hàng thương mại đảm nhận.

Dự án đầu tư nước ngoài cần thẩm tra

tham-dinh-du-an-dau-tu-viet-nam

Dự án đầu tư có quy mô vốn từ 300 tỷ đồng trở lên không thuộc danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện:
Dự án đầu tư có quy mô vốn từ 300 tỷ đồng trở lên thuộc danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện
Dự án do Thủ tướng chấp thuận chủ trương đầu tư
Thông tin liên hệ 
Công ty ty tư vấn Việt Luật 
Số 126 - Phố Chùa Láng - Đống Đa - Hà Nội
Email: congtyvietluathanoi@gmail.com
Hotline : 0965 999 345 - 0938 234 777 

Thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đầu tư tại Việt Nam

Việt Luật hướng dẫn hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đầu tư doanh nghiệp tại Việt Nam giành các doanh nghiệp và các cá nhân , Nội dung cụ thể thủ tục và hồ sơ của chúng tôi như sau :
Hồ sơ đăng ký đầu tư trong trường hợp không gắn với thành lập tổ chức kinh tế:
Trong trường hợp đăng ký dự án có vốn đầu tư nước ngoài không gắn với thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư phải nộp một bộ hồ sơ đến Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc Ban quản lý (Khu Công nghiệp,
thanh-lap-cong-ty-lien-doanh-nuoc-ngoai

Khu Chế xuất, Khu công nghệ cao, Khu Kinh tế) gọi chung là cơ quan nhà nước quản lý đầu tư, bao gồm các tài liệu sau:
Văn bản đăng ký/đề nghị cấp giấy chứng nhận đầu tư
Hợp đồng hợp tác kinh doanh đối với hình thức đầu tư theo Hợp đồng hợp tác kinh doanh;
Báo cáo năng lực tài chính của nhà đầu tư (do nhà đầu tư lập và chịu trách nhiệm).
Hồ sơ đăng ký đầu tư trong trường hợp gắn với thành lập tổ chức kinh tế
1. Bản đăng ký/đề nghị cấp Giấy chứng nhận đầu tư - theo mẫu I-3 và hướng dẫn cách ghi các mẫu văn bản theo phụ lục IV.1 của Quyết định 1088/2006/QĐ-BKH ngày 21/9/2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
2.  Báo cáo năng lực tài chính của nhà đầu tư do nhà đầu tư lập và chịu trách nhiệm (nội dung báo cáo phải thể hiện rõ nguồn vốn đầu tư, nhà đầu tư có đủ khả năng tài chính để thực hiện dự án đầu tư).
3. Dự thảo Điều lệ Công ty tương ứng với từng loại hình doanh nghiệp (Công ty TNHH 1 thành viên,  Công ty TNHH 2 thành viên trở lên, Công ty Cổ phần, Công ty Hợp danh). Dự thảo Điều lệ công ty phải có đầy đủ chữ ký (và được ký từng trang)của chủ sở hữu công ty, người đại diện theo pháp luật của công ty đối với công ty TNHH 1 thành viên; của người đại diện theo pháp luật, của các thành viên hoặc người đại diện theo uỷ quyền đối với công ty TNHH 2 thành viên trở lên; của người đại diện theo pháp luật, của các cổ đông sáng lập hoặc người đại diện theo uỷ quyền của cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần. Nội dung điều lệ phải đầy đủ nội dung theo Điều 22 Luật Doanh nghiệp.
4. Danh sách thành viên tương ứng với từng loại hình doanh nghiệp – theo mẫu I-8 hoặc I-9 của Quyết định 1088/2006/QĐ-BKH ngày 21/9/2006 hoặc mẫu II-4 của Thông tư 03/2006/TT-BKH ngày 19/10/2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
5. Văn bản xác nhận tư cách pháp lý của các thành viên sáng lập:
- Đối với thành viên sáng lập là pháp nhân: Bản sao hợp lệ có hợp pháp hóa lãnh sự (không quá 3 tháng trước ngày nộp hồ sơ) Quyết định thành lập, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ tương đương khác, Điều lệ hoặc tài liệu tương đương khác (Khoản 3 Điều 15 Nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 của Chính phủ). Các văn bản bằng tiếng nước ngoài phải được dịch sang tiếng Việt và có xác nhận của tổ chức có chức năng dịch thuật.
 - Đối với thành viên sáng lập là cá nhân: Bản sao hợp lệ có hợp pháp hóa lãnh sự (không quá 3 tháng trước ngày nộp hồ sơ) của một trong các giấy tờ: Giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc giấy tờ chứng thực cá nhân hợp pháp còn hiệu lực (Điều 18 Nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 của Chính phủ).
6. Văn bản uỷ quyền của nhà đầu tư cho người được uỷ quyền đối với trường hợp nhà đầu tư là tổ chức và Bản sao hợp lệ (bản sao có công chứng) một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân của người đại diện theo uỷ quyền. Các văn bản bằng tiếng nước ngoài phải được dịch sang tiếng Việt và có xác nhận của tổ chức có chức năng dịch thuật.
7. Hợp đồng liên doanh đối với hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài hoặc Hợp đồng hợp tác kinh doanh đối với hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh. (Tham khảo Điều 54, 55 Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 của Chính phủ)
8. Trường hợp dự án đầu tư liên doanh có sử dụng vốn nhà nước thì phải có văn bản chấp thuận việc sử dụng vốn nhà nước để đầu tư của cơ quan có thẩm quyền.
*. Số lượng hồ sơ nộp: 03 bộ hồ sơ (trong đó 01 bộ gốc, bằng tiếng Việt hoặc tiếng Việt và tiếng nước ngoài thông dụng) được đóng thành từng quyển.
Nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư và làm thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư tại cơ quan quan nhà nước quản lý đầu tư để cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Thông tin tư vấn pháp lý liên hệ 
Công ty tư vấn Việt Luật 
Số 126 - Phố Chùa Láng - Đống Đa - Hà Nội
Email: congtyvietluathanoi@gmail.com
Hotline : 0965 999 345 - 0938 234 777 

Điều kiện đầu tư trong lĩnh vực truyền hính nhà đầu tư nước ngoài

Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phát thanh truyền hình theo quy định của pháp luật đầu tư
dau-tu-nuoc-ngoai-phat-thanh-truyen-hinh

Điều kiện chung
Đối với dịch vụ sản xuất phim, các nhà đầu tư nước ngoài chỉ hoạt động dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với các đối tác Việt Nam đã được phép cung cấp các dịch vụ này tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 51% vốn pháp định của liên doanh.

Đối với dịch vụ phát hành phim, các nhà đầu tư nước ngoài chỉ hoạt động dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với các đối tác Việt Nam đã được phép cung cấp các dịch vụ này tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 51% vốn pháp định của liên doanh.

Đối với dịch vụ chiếu phim, các nhà đầu tư nước ngoài chỉ hoạt động dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với các đối tác Việt Nam đã được phép cung cấp các dịch vụ này tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 51% vốn pháp định của liên doanh.

Các nhà văn hoá, các tụ điểm chiếu phim, câu lạc bộ và hiệp hội chiếu phim công cộng, các đội chiếu bóng lưu động của Việt Nam không được phép tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh hay liên doanh với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài.
Tham khảo các thông tin khác :
Hỗ trợ nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Đầu tư nước ngoài năm 2015
Tham khảo nội dung cụ thể 
Công ty tư vấn Việt Luật
Số 126 - Phố Chùa Láng - Đống Đa - Hà Nội
Email:congtyvietluathanoi@gmail.com
Hotline : 0965 999 345 - 0938 234 777 

Quy định hỗ trợ nhà đầu tư tại Việt Nam

Việt Luật tư vấn các thủ tục và quy định về đầu tư với doanh nghiệp và các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam , Nội dung cụ thể nhà đầu tư có thể gặp các chuyên viên Việt Luật có tư vấn cụ thể nhất .
Các quy định của pháp luật về hỗ trợ Đầu tư theo quy định của pháp luật
uu-dai-voi-nha-dau-tu-nuc-ngoai

HỖ TRỢ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên chuyển giao công nghệ, bao gồm cả việc góp vốn bằng công nghệ để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và pháp luật về chuyển giao công nghệ.
Giá trị của công nghệ dùng để góp vốn hoặc giá trị của công nghệ được chuyển giao do các bên thoả thuận và được quy định tại hợp đồng chuyển giao công nghệ.
Chính phủ khuyến khích việc chuyển giao vào Việt Nam công nghệ tiên tiến, công nghệ nguồn và công nghệ để tạo ra sản phẩm mới, nâng cao năng lực sản xuất, năng lực cạnh tranh, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng, tài nguyên thiên nhiên; khuyến khích việc đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản lý và sử dụng công nghệ.
Căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã đầu tư vào nghiên cứu và triển khai, chuyển giao công nghệ.
Quyền và nghĩa vụ của các bên chuyển giao công nghệ, quy trình và thủ tục chuyển giao công nghệ thực hiện theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ.

HỖ TRỢ ĐÀO TẠO

Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ nhà đầu tư lập quỹ hỗ trợ đào tạo từ nguồn vốn góp và tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài như sau:
Quỹ hỗ trợ đào tạo được thành lập không vì mục đích lợi nhuận; được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật về thuế;
Chi phí đào tạo của tổ chức kinh tế được tính vào chi phí hợp lý làm căn cứ xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.
Chính phủ hỗ trợ từ nguồn ngân sách cho việc đào tạo lao động trong các tổ chức kinh tế thông qua chương trình trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực. Chính phủ có kế hoạch, chương trình trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

HỖ TRỢ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ DỊCH VỤ ĐẦU TƯ
Chính phủ hỗ trợ đầu tư phát triển đối với dự án đáp ứng các điều kiện sau:
Dự án thuộc ngành, lĩnh vực quan trọng trong chương trình kinh tế lớn có tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững nhưng không được ngân sách nhà nước cấp phát và không được ngân hàng thương mại cho vay theo điều kiện thông thường vì có yếu tố rủi ro;
Phù hợp với quy định của pháp luật;
Phù hợp với quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Việc hỗ trợ tín dụng đầu tư thực hiện theo quy định của pháp luật về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước.
Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức, cá nhân không phân biệt thành phần kinh tế thực hiện các dịch vụ hỗ trợ đầu tư sau:
Tư vấn đầu tư, tư vấn quản lý;
Tư vấn về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ;
Dạy nghề, đào tạo kỹ thuật và kỹ năng quản lý;
Cung cấp thông tin về thị trường, thông tin khoa học - kỹ thuật, công nghệ và các thông tin kinh tế, xã hội mà nhà đầu tư yêu cầu;
Tiếp thị, xúc tiến đầu tư và thương mại;
Thành lập, tham gia các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo quy định của pháp luật;
Thành lập các trung tâm thiết kế, thử nghiệm để hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
HỖ TRỢ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG KẾT CẤU HẠ TẦNG NGOÀI HÀNG RÀO KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT, KHU CÔNG NGHỆ CAO
Chính phủ khuyến khích và có chính sách ưu đãi các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngoài hàng rào khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao.
Căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt,    các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) lập kế hoạch đầu tư và tổ chức xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngoài hàng rào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cân đối nguồn ngân sách địa phương để hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngoài hàng rào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế.
HỖ TRỢ ĐẦU TƯ HỆ THỐNG KẾT CẤU HẠ TẦNG TRONG HÀNG RÀO KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT

Thủ tướng Chính phủ quy định điều kiện, nguyên tắc, hạn mức và hạng mục công trình được hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho một số địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để cùng nhà đầu tư đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào khu công nghiệp và khu chế xuất.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cân đối nguồn ngân sách địa phương để hỗ trợ nhà đầu tư đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào khu công nghiệp, khu chế xuất.
PHƯƠNG THỨC ĐẦU TƯ HỆ THỐNG KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT
Việc đầu tư, kinh doanh hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp, khu chế xuất được thực hiện bởi một hoặc nhiều nhà đầu tư; phải bảo đảm phù hợp và thống nhất với quy hoạch chi tiết xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của từng nhà đầu tư.
Đối với địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc cho phép thành lập đơn vị sự nghiệp có thu làm chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp, khu chế xuất.
HỖ TRỢ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT KHU KINH TẾ, KHU CÔNG NGHỆ CAO
Chính phủ dành nguồn vốn đầu tư từ ngân sách để hỗ trợ đối với các trường hợp sau:
Đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngoài các khu chức năng và các công trình dịch vụ công cộng quan trọng trong khu kinh tế;
Bồi thường giải phóng mặt bằng trong các khu chức năng và tái định cư, tái định canh cho các hộ gia đình bị thu hồi đất;
Đầu tư công trình xử lý nước thải và chất thải tập trung của các khu chức năng.
Chính phủ khuyến khích và có chính sách ưu đãi đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội khu kinh tế.
Thủ tướng Chính phủ quyết định phương thức huy động các nguồn vốn khác để đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội khu kinh tế.
Việc hỗ trợ đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng khu công nghệ cao thực hiện theo quy định của pháp luật về khu công nghệ cao.
Thông tin liên hệ tư vấn 
Công ty tư vấn Việt Luật
Số 126 - Phố Chùa Láng - Đống Đa - Hà Nội
Email: congtyvietluathanoi@gmail.com
Hotline : 0965 999 345 - 0938 234 777 

Ngành nghề có điều kiện với nhà đầu tư nước ngoài

Việt Luật giới thiệu nhà đầu tư danh mục ngành nghề có điều kiện với các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam , Nội dung cụ thể tư vấn pháp lý của chúng tôi như sau :
nganh-nghe-co-dieu-kien-nha-dau-tu-nuoc-ngoai

(Ban hành kèm theo Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ)
Phát thanh, truyền hình.
Sản xuất, xuất bản và phân phối các sản phẩm văn hoá.
Lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm
Lĩnh vực Ngân hàng
Khai thác, chế biến khoáng sản.
Thiết lập hạ tầng mạng viễn thông, truyền dẫn phát sóng, cung cấp dịch vụ viễn thông và internet.
Xây dựng mạng bưu chính công cộng; cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát.
Xây dựng và vận hành cảng sông, cảng biển, cảng hàng không, sân bay.
Vận tải hàng hoá và hành khách bằng đường sắt, đường hàng không, đường bộ, đường biển, đường thuỷ nội địa.
Đánh bắt hải sản.
Sản xuất thuốc lá.
Kinh doanh bất động sản.
Đầu tư trong lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối.
Giáo dục, đào tạo.
Bệnh viện, phòng khám.
Các lĩnh vực đầu tư khác trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cam kết hạn chế mở cửa thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài.
Điều kiện đầu tư áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài có dự án đầu tư thuộc các danh mục này này phải phù hợp với quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Thông tin tư vấn pháp lý quý khách hàng liên hệ 
Công ty tư vấn Việt Luật 
Số 126 - Phố Chùa Láng - Đống Đa - Hà Nội
Email:congtyvietluathanoi@gmail.com
Hotline : 0965 999 345 - 0938 234 777

Đầu tư vào Việt Nam tăng trưởng chóng mặt

Theo hãng tin Bloomberg, Việt Nam một lần nữa đang đứng trước cơ hội cất cánh về kinh tế sau vài năm gây thất vọng...
dau-tu-viet-nam-tang-truong-nhanh-chong

Một bài viết do hãng tin Bloomberg đăng tải hôm qua (23/3) cho rằng, với lợi thế về vị trí địa lý và dân số của mình, Việt Nam sắp sửa vươn lên thành một "con hổ kinh tế mới" của khu vực châu Á.

Nằm cạnh một trong những tuyến đường biển quan trọng nhất thế giới và có dân số trẻ, đang tăng trưởng, Việt Nam một lần nữa đang đứng trước cơ hội cất cánh về kinh tế sau vài năm gây thất vọng - bài viết của Bloomberg mở đầu. Tiền vốn đổ vào Việt Nam từ những doanh nghiệp khổng lồ như Samsung và Intel đang đưa nền kinh tế này vào một cuộc chạy đua lần thứ hai với mục tiêu trở thành "con hổ kinh tế" của châu Á.

Chính sách đổi mới vào cuối thập niên 1980 đã giúp Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt 7%. Sau đó, nợ xấu tại các doanh nghiệp quốc doanh đã khiến nền kinh tế Việt Nam chững lại trong những năm gần đây.

Tuy vậy, theo công ty tư vấn và kiểm toán PricewaterhouseCoopers LLP (PwC), Việt Nam có tiềm năng trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong thời gian từ nay đến năm 2050. Không chỉ trở thành một địa chỉ sản xuất thay thế với chi phí rẻ hơn so với nước láng giềng Trung Quốc, Việt Nam còn đang thu hút nhiều doanh nghiệp Nhật Bản muốn tăng cường đầu tư trong khu vực trong bối cảnh mối quan hệ Trung-Nhật không được "xuôi chèo mát mái".

"Rất có khả năng Việt Nam sẽ trở thành nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất châu Á", ông Vikram Nehru, chuyên gia cấp cao về Đông Nam Á thuộc tổ chức Carnegie Endowment for International Peace ở Washington, nhận định. "Việt Nam có tất cả những yếu tố cần thiết cho tăng trưởng nhanh nếu giải quyết được những thách thức trong khu vực quốc doanh".

Những tín hiệu về ảnh hưởng gia tăng của Việt Nam đang ngày càng rõ: Năm 2014, Việt Nam vượt qua các nước trong khu vực để trở thành nước xuất khẩu lớn nhất sang Mỹ trong Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Để đạt được vị trí này, Việt Nam đã vượt qua hai đối thủ nặng ký hơn về sản xuất trong khu vực là Thái Lan và Malaysia.

Lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giải ngân tại Việt Nam đã tăng mạnh trong 14 năm qua, đạt mức 12,35 tỷ USD trong năm 2014, tăng 7,4% so với năm 2013, từ con số 2,4 tỷ USD vào năm 2000. Quy mô hoạt động của Samsung tại Việt Nam đã lớn đến nỗi được Chính phủ cấp phép cho sử dụng một nhà ga riêng tại sân bay quốc tế Nội Bài.

Nhiều công ty muốn chuyển sản xuất khỏi Trung Quốc xem Việt Nam là một lựa chọn lý tưởng. Nhà sản xuất máy in Kyocera Document Solution, một công ty con của Kyocera Corp. dự kiến sẽ tăng gấp 4 lần sản lượng máy in sản xuất hàng năm tại Việt Nam lên 2 triệu chiếc trong thời gian từ nay tới tháng 3/2018. Một phần cơ sở sản xuất của Kyocera Document Solution sẽ được chuyển tới Hải Phòng, đưa Việt Nam trở thành cơ sở sản xuất máy in lớn nhất của công ty này. Theo dự kiến, công ty sẽ xây thêm một nhà máy nữa tại Việt Nam vào tháng 8 năm nay.

"Việt Nam thực sự hưởng lợi lớn từ việc Trung Quốc mất lợi thế cạnh tranh do tiền lương tăng" và đồng Nhân dân tệ mạnh, ông Frederic Neumann, đồng Giám đốc nghiên cứu kinh tế châu Á của ngân hàng HSBC tại Hồng Kông, nhận xét. "Bằng cách dịch chuyển sớm vào khoảng trống mà Trung Quốc để lại, Việt Nam có lợi thế đi đầu và giờ là lúc Việt Nam bắt đầu thể hiện lợi thế đó".

Trước khi giảm giá trong năm 2014, đồng Nhân dân tệ tại thị trường Thượng Hải đã có 4 năm tăng liên tục với tổng mức tăng 14%, trở thành đồng tiền tăng giá mạnh nhất trong số 24 đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi được Bloomberg theo dõi.

Từ đầu năm đến nay, chỉ số VN-Index của thị trường chứng khoán Việt Nam tăng 5,5%, so với mức tăng 4,1% của thị trường Indonesia, 2,4% của Malaysia, và 2,2% của Thái Lan.

Theo báo cáo "Thế giới năm 2050" của PwC, tăng trưởng GDP thực tế hàng năm của Việt Nam trong thời kỳ 2014-2050 có thể đạt mức trung bình 5,3%, chỉ thua tốc độ tăng trưởng của kinh tế Nigeria. Trong khi đó, PwC dự báo tăng trưởng kinh tế Trung Quốc giảm xuống dưới ngưỡng 4%.

Dân số cũng là một lợi thế lớn của Việt Nam. Khoảng 13% dân số Trung Quốc vào năm 2012 ở độ tuổi từ 60 trở lên, so với tỷ lệ 9% của Việt Nam - theo số liệu của Liên hiệp Quốc. Vào năm 2013, hơn 40% dân số khoảng 90 triệu người của Việt Nam nằm trong độ tuổi lao động từ 15-49, theo số liệu của Chính phủ.

Mức lương trung bình hàng tháng ở Việt Nam vào năm 2013 là 197 USD, so với mức 391 USD ở Thái Lan và 613 USD ở Trung Quốc - theo ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Sự chênh lệch này đang nới rộng. Công ty nghiên cứu The Economist Intelligence Unit dự báo vào năm 2019, chi phí lao động mỗi giờ trong ngành sản xuất ở Trung Quốc sẽ cao hơn 177% so với ở Việt Nam, từ mức chênh lệch 147% vào năm 2012.

"Tôi nhớ khi còn ở Trung Quốc 2 năm trước, tôi đi mua một đôi giày và phát hiện ra đó là giày sản xuất tại Việt Nam", John Hawksworth, một trong những tác giả thực hiện bản báo cáo của PwC, cho biết.

Tuy vậy, vẫn còn những vấn đề cần lưu tâm.

Các ngân hàng thương mại của Việt Nam đang gánh mức nợ xấu cao, trong khi Chính phủ chật vật cải tổ các công ty quốc doanh kém hiệu quả. Cơ sở hạ tầng còn yếu kém, khoảng cách kỹ năng, và tham nhũng vẫn là những rủi ro. Việt Nam xếp thứ 119 trong số 175 quốc gia và vùng lãnh thổ trong xếp hạng tham nhũng Corruption Perceptions Index năm 2014 của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) có trụ sở ở Berlin, Đức. Trung Quốc xếp thứ 100 trong xếp hạng này. Bên cạnh đó, các nước Đông Nam Á khác như Philippines và Malaysia cũng đang cạnh tranh mạnh để thu hút các nhà sản xuất nước ngoài.

"Không thể đảm bảo Việt Nam sẽ phát huy được hết tiềm năng. Một phần là do Việt Nam chỉ đơn thuần có vị trí địa lý tốt, và một phần là Việt Nam còn phải nỗ lực hơn nữa về GDP bình quân đầu người", ông Hawksworth phát biểu.

Trong bối cảnh Trung Quốc dịch chuyển lên phía trên của chuỗi giá trị, hầu hết các cơ sở sản xuất chuyển sang Việt Nam đều thuộc lĩnh vực sản xuất thấp cấp. Đó là các công ty thuộc những ngày có sử dụng hàm lượng sức lao động cao như dệt may, nội thất và hàng điện tử.

"Năng suất của ngành sản xuất Việt Nam là rất thấp", ông Karel Eloot, Giám đốc phụ trách khu vực châu Á của hãng tư vấn McKinsey & Co. tại Thượng Hải, nhận xét. "Đó là trở ngại lớn nhất đối với sự phát triển xa hơn của Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam hiện đang nỗ lực khắc phục một vài trong số những tồn tại lớn nhất của nền kinh tế.

Năm nay, dự kiến Chính phủ sẽ bán ra một lượng lớn kỷ lục cổ phần trong các công ty quốc doanh. Thông tin này được ông Đặng Quyết Tiến, Phó cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp thuộc Bộ Tài Chính, cho biết hôm 13/3. Theo nhận định của hãng đánh giá tín nhiệm Moody's, kế hoạch bán cổ phần trong khoảng 280 công ty quốc doanh của Việt Nam là một tín hiệu tích cực cho các ngân hàng.

Ngoài ra còn có một số tin tốt nữa. Việt Nam hiện đang đàm phán một thỏa thuận thương mại tự do với Liên minh châu Âu (EU) và thỏa thuận đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Mỹ dẫn đầu.

"Việt Nam sẽ thay thế Thái Lan trở thành ngôi sao của tiểu vùng sông Mekong mở rộng", ông Tim Condon, phụ trách nghiên cứu về châu Á thuộc ngân hàng ING Groep NV, nhận xét.

Xuất khẩu của Thái Lan đã giảm trong 2 năm qua. Quốc gia này từng được giới phân tích và truyền thông gọi là một "con hổ kinh tế" đang phát triển trước khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998.

Ngân hàng ANZ mới đây đã nâng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam lên 6,5% trong năm nay và năm 2016. Cơ sở mà ANZ đưa ra cho dự báo này là doanh số bán lẻ mạnh, sản xuất công nghiệp tăng tốc, và các hoạt động xây dựng khởi sắc.

"Cơ cấu của nền kinh tế Việt Nam đang dịch chuyển từ nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp. Có thể nhận thấy sự tiến bộ đang diễn ra", bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, đánh giá.

Kinh nghiệm thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Trong giai đoạn tới, Việt Nam tiếp tục xác định thu hút đầu tư nước ngoài là mục tiêu quan trọng với định hướng thu hút công nghệ cao, công nghệ hỗ trợ, phát triển hàm lượng công nghiệp, giá trị gia tăng cao. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh với các quốc gia khác trong thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng gay gắt, để tăng khả năng hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Việt Nam đòi hỏi thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó việc nghiên cứu, so sánh chính sách FDI của các quốc gia có những điều kiện, trình độ tương đồng với Việt Nam là cần thiết. Bài viết xin trình bày nghiên cứu về chính sách thu hút FDI tại Thái Lan, Malaysia và một số kinh nghiệm cho Việt Nam.
Thu hút FDI tại Thái Lan
dau-tu-nuoc-ngoai-tai-viet-nam

Tại Thái Lan, thu hút FDI luôn được coi là một trong những nhân tố kích thích quan trọng đối với nền kinh tế. Mặc dù dòng vốn nước ngoài suy giảm do ảnh hưởng của bất ổn chính trị, nhưng nhờ biết cách tập trung vào những lĩnh vực quan trọng như thu hút thêm các dự án chế tạo có giá trị gia tăng cao cũng như các dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao và sinh thái…, đồng thời đơn giản hóa thủ tục hành chính, Thái Lan vẫn được xem là điểm đến đầu tư hấp dẫn.

Hơn thế nữa, Thái Lan có thị trường thu hút đầu tư rất cạnh tranh và hấp dẫn trong khu vực châu á. Trong các quốc gia, lãnh thổ đầu tư vào Thái Lan, Nhật Bản có lượng vốn đầu tư lớn nhất với khoảng 7.000 doanh nghiệp Nhật Bản đang đầu tư tại quốc gia này. Hàn Quốc, Trung Quốc ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn FDI vào Thái Lan. Lượng vốn FDI từ các nhà đầu tư Singapore chiếm khoảng 80-90% tổng vốn đầu tư của các nước ASEAN vào Thái Lan.

Gần đây, trong chiến lược mới được Thái Lan thông qua đầu tháng 9/2014, để thu hút thêm vốn FDI, Thái Lan sẽ tiếp tục ưu tiên thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, chế biến và phân phối hàng nông sản, khai khoáng, công nghiệp nhẹ, chế tạo máy và thiết bị vận tải, thiết bị điện và điện tử, hóa chất, sản xuất nhựa, giấy, dịch vụ và cơ sở hạ tầng…

Chính sách ưu đãi đầu tư nước ngoài

Thái Lan có cơ quan chuyên trách về ưu đãi đầu tư là ủy ban đầu tư Thái Lan (BOI), cơ quan này chuyên xem xét ưu đãi cho từng dự án và phân loại dự án đầu tư theo tác động của dự án đó đến nền kinh tế cả nước, chứ không phải chỉ một vùng miền nào đó.

Ưu đãi đầu tư của Thái Lan cho nhà đầu tư nước ngoài bao gồm các khuyến khích bằng thuế và các khuyến khích không bằng thuế như sau:

Các khuyến khích bằng thuế, bao gồm: miễn, giảm thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị; giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp; giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp; khấu trừ hai lần chi phí vận chuyển, điện và nước; bổ sung 25% khấu trừ chi phí xây dựng và lắp đặt cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp; miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu và nguyên liệu thiết yếu sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu.

Các khuyến khích không bằng thuế, bao gồm: cho phép công dân nước ngoài vào Thái Lan để nghiên cứu cơ hội đầu tư; cho phép đưa vào Thái Lan những lao động kỹ năng cao và chuyên gia để thực hiện việc xúc tiến đầu tư; cho phép sở hữu đất đai; cho phép mang lợi nhuận ra nước ngoài bằng ngoại tệ.

Về địa bàn ưu đãi đầu tư (dựa trên chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người), Thái Lan chia thành 03 vùng để áp dụng chính sách ưu đãi khác nhau. Đồng thời, ưu đãi đầu tư trong KCN và ngoài KCN cũng có sự phân biệt, cụ thể là:    

Thuế nhập khẩu

Bên ngoài KCN

Bên trong KCN

Vùng 1

Giảm 50%

Giảm 50%

Vùng 2

Giảm 50%

Miễn thuế nhập khẩu

Vùng 3

Miễn thuế nhập khẩu

Miễn thuế nhập khẩu

Thuế thu nhập doanh nghiệp

Bên ngoài KCN

Bên trong KCN

Vùng 1

Không được ưu đãi

Miễn thuế 03 năm

Vùng 2

Miễn thuế 03 năm

Miễn thuế 07 năm

Vùng 3

Miễn thuế 08 năm

Miễn thuế 08 năm


Hiện nay, thuế suất phổ thông thuế thu nhập doanh nghiệp của Thái Lan là 20%.

Về loại hình doanh nghiệp: có 3 loại hình doanh nghiệp được áp dụng đối với đầu tư nước ngoài: doanh nghiệp tư nhân đơn nhất, công ty hợp danh và công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) tư nhân. Hình thức phổ biến nhất đối với đầu tư nước ngoài là công ty TNHH tư nhân.

Về thủ tục đầu tư, theo BOI có khoảng trên 20 cơ quan của Chính phủ Thái Lan tham gia vào quy trình thẩm định, thành lập doanh nghiệp để thực hiện đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài tại Thái Lan. Quá trình thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Thái Lan trải qua 2 bước: đăng ký Giấy phép kinh doanh nước ngoài và đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp.

Về cơ chế hành chính "một cửa tại chỗ", trước đây, BOI được giao làm đầu mối thực hiện để hỗ trợ các nhà đầu tư. Tuy nhiên, hiện nay, BOI chỉ đóng vai trò là đầu mối cung cấp các thông tin liên quan và chỉ cấp Giấy chứng nhận ưu đãi cho nhà đầu tư. Việc xin cấp các loại giấy phép khác do nhà đầu tư tự thực hiện tại các Bộ chuyên ngành. Cụ thể là: Bộ Thương mại cấp Giấy đăng ký kinh doanh để thành lập doanh nghiệp; Bộ Công nghiệp cấp Giấy phép kinh doanh.

Điểm mới trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài

Theo BOI, hiện nay, Thái Lan đang thực hiện 03 thay đổi trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, cụ thể là:

(1) Trước đây, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài được dựa trên chiến lược phát triển sản xuất thay thế nhập khẩu. Do đó, Thái Lan phải nhập khẩu nhiều máy móc, nguyên vật liệu, dẫn đến thâm hụt thương mại. Đến nay, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Thái Lan là hướng vào phát triển sản xuất phục vụ cho xuất khẩu;

(2) Thu hẹp diện hưởng ưu đãi đầu tư từ 240 ngành, lĩnh vực như trước đây xuống còn 100 ngành, lĩnh vực. Đồng thời, ưu đãi đầu tư tập trung hơn vào 03 lĩnh vực, bao gồm: phát triển công nghệ cao; nghiên cứu và phát triển (R&D), hoạt động đào tạo công nghệ tiên tiến; phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME);

(3) Khuyến khích đầu tư nước ngoài vào các vùng xa Bangkok và vùng nông thôn để thu hẹp khoảng cách phát triển. Ngoài ra, do chi phí cuộc sống tăng, thiếu nguyên liệu, Chính phủ Thái Lan cũng khuyến khích doanh nghiệp Thái Lan đầu tư ra nước ngoài, nhất là các quốc gia ASEAN.

Thu hút FDI tại Malaysia

Hiện nay, trên toàn lãnh thổ Malaysia có khoảng 595 KCN. Các KCN của Malaysia có quy mô diện tích khác nhau từ 20 ha đến trên 500 ha và được phân thành KCN nhẹ, KCN vừa và KCN nặng tùy thuộc vào loại ngành nghề hoạt động của doanh nghiệp và quy mô diện tích KCN. KCN nhẹ có quy mô diện tích từ 20-200 ha, tập trung sản xuất các ngành, nghề như chế biến thực phẩm, dệt may, thiết bị y tế, công nghiệp hỗ trợ. KCN vừa có quy mô diện tích từ 100-600 ha, tập trung sản xuất các ngành, nghề như chế tạo máy móc, thiết bị, điện tử, chế biến gỗ. KCN nặng có quy mô diện tích từ 500-3.000 ha, tập trung sản xuất các ngành, nghề như hóa dầu, kim loại. Phần lớn các KCN của Malaysia do các cơ quan nhà nước đầu tư như: các Công ty phát triển kinh tế Bang, Cơ quan phát triển vùng, Hội đồng hành lang vùng và một số công ty tư nhân đầu tư.

Những năm 50 - 60 của thế kỷ trước, Malaysia khuyến khích thu hút FDI vào những ngành xuất khẩu bằng việc giảm thuế thu nhập tới 3 năm cho các doanh nghiệp đầu tư vào những ngành được lựa chọn. Tuy nhiên, từ năm 1996, Malaysia đã khuyến khích đầu tư cho các dự án công nghệ cao, công nghệ sinh học, quang điện tử, công nghệ không dây và vật liệu tiên tiến. Để thu hút các công ty công nghệ đẳng cấp thế giới (cả trong nước và ngoài nước) và khuyến khích phát triển ngành công nghệ thông tin, công nghệ cao, Chính phủ Malaysia đề ra sáng kiến phát triển công nghệ thông tin quốc gia, gọi là khu công nghệ thông tin. Đây là một khu vực có vị trí địa lý xác định, có môi trường kinh doanh thuận lợi với hệ thống sinh thái tốt để thu hút các nhà đầu tư và hỗ trợ phát triển cho các công ty trong nước trở thành những công ty đẳng cấp quốc tế. Hiện tại Malaysia có 30 khu công nghệ thông tin và có gần 3000 công ty đã được công nhận đạt tiêu chuẩn kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Các Công ty này thuộc đối tượng được hưởng các chính sách ưu đãi đầu tư như miễn 100% thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 10 năm, tiếp cận nguồn vốn không hoàn lại về nghiên cứu và phát triển.

Khác với Thái Lan, Malaysia không có cơ quan quản lý nhà nước về KCN, các doanh nghiệp muốn đầu tư vào KCN có thể liên hệ trực tiếp với Trung tâm đầu tư của Bang, các Sở: công trình công cộng, phòng cháy và cứu trợ, môi trường, đất đai, cơ quan phát triển đầu tư (MIDA) để đăng ký thành lập doanh nghiệp và xin giấy phép đối với dự án thuộc lĩnh vực sản xuất.

Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài

Để bắt đầu một dự án sản xuất mới, nhà đầu tư nước ngoài cần có Giấy phép sản xuất và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty sản xuất với vốn góp cổ đông từ 2,5 triệu RM trở lên hoặc sử dụng trên 75 lao động phải xin Giấy phép sản xuất. Tiêu chí phê duyệt dự án đầu tư ở Malaysia được xây dựng dựa trên tỷ lệ vốn đầu tư cho mỗi lao động (C/E). Các dự án có tỷ lệ C/E nhỏ hơn 55.000 RM được xác định là dự án sử dụng nhiều lao động và do đó không đủ điều kiện cấp giấy phép sản xuất để nhận ưu đãi về thuế.

Tuy nhiên, một dự án sẽ được xem là ngoại lệ so với quy định trên nếu đáp ứng ít nhất một trong các tiêu chí sau: (i) giá trị gia tăng là 30% trở lên, (ii) có chỉ số MTS (tỷ lệ cán bộ quản lý, kỹ thuật và giám sát trên tổng số nhân viên) từ 15% trở lên, (iii) dự án liên quan đến các hoạt động hoặc sản xuất các sản phẩm trong "Danh sách các sản phẩm và hoạt động được khuyến khích - Công ty công nghệ cao"; hoặc (iv) trước đây công ty đã được cấp giấy phép sản xuất.

Quy trình, thủ tục đầu tư tại Malaysia được thực hiện qua 2 bước

Bước 1: Nhà đầu tư nước ngoài đăng ký thành lập doanh nghiệp với ủy ban Doanh nghiệp của Malaysia (CCM). Sau khi nhận được Giấy đăng ký doanh nghiệp, nhà đầu tư phải thực hiện các thủ tục khác như mở tài khoản ngân hàng, đăng ký với cơ quan thuế thu nhập của Malaysia và đăng ký để xin cấp giấy phép văn phòng từ cơ quan địa phương nơi doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh.

Bước 2: Phê duyệt giấy phép đối với dự án thuộc lĩnh vực sản xuất. Để bắt đầu một dự án sản xuất mới tại Malaysia, nhà đầu tư nước ngoài ngoài việc cần được CCM cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh còn phải được Cơ quan phát triển đầu tư Malaysia (MIDA) phê duyệt giấy phép sản xuất. Các công ty sản xuất với vốn góp cổ đông từ 2,5 triệu RM trở lên hoặc sử dụng từ 75 lao động toàn thời gian trở lên phải xin giấy phép sản xuất.

Một công ty được cấp giấy phép muốn mở rộng năng lực sản xuất hoặc đa dạng hóa sản phẩm của mình bằng cách sản xuất các sản phẩm bổ sung cũng cần gửi đơn cho MIDA.

Ngành, lĩnh vực và địa bàn được hưởng ưu đãi

Ưu đãi đầu tư tại Malaysia được coi như là một công cụ nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài theo đúng mục tiêu đề ra. Nhằm tăng giá trị xuất khẩu, Malaysia áp dụng các ưu đãi như giảm 10% thuế giá trị gia tăng cho sản phẩm xuất khẩu, giảm 5% giá nguyên liệu đầu vào nội địa để sản xuất hàng xuất khẩu, cũng như chi phí quảng cáo, nghiên cứu thị trường. Với mục tiêu tạo việc làm và khuyến khích đầu tư mở rộng của doanh nghiệp FDI, Malaysia đã đưa ra điều kiện để được hưởng ưu đãi là lao động thường xuyên từ 500 người trở lên hoặc vốn giải ngân đạt từ 25 triệu RM trở lên. Nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực, Malaysia đã cấp ưu đãi cho phép các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đào tạo hướng nghiệp cho người lao động hoặc xây dựng các trường đào tạo.

Từ năm 2006 đến nay, nhằm khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, các ưu đãi cơ bản về thuế cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực sản xuất được thực hiện trên nền chính sách "nhà đầu tư tiên phong" và chính sách "trợ cấp thuế đầu tư". Việc xác định tình trạng nhà đầu tư tiên phong hoặc đủ điều kiện được hưởng chính sách trợ cấp thuế đầu tư dựa trên những tiêu chí như: mức độ giá trị gia tăng, công nghệ được sử dụng và các mối liên kết công nghiệp của dự án.

Ngoài ra, Malaysia cũng đưa ra các chương trình khuyến khích đầu tư cho các ngành công nghệ cao, dự án chiến lược, máy móc thiết bị công nghiệp, công nghiệp ô tô và ngành sử dụng dầu cọ sinh khối.

Ở Malaysia, chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài và các ưu đãi được quản lý tập trung ở cấp liên bang. Các bang (chính quyền địa phương) không có thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư hoặc đưa ra các ưu đãi tài chính ở cấp địa phương.

Các lĩnh vực sản xuất được áp dụng chính sách nhà đầu tư tiên phong và trợ cấp thuế đầu tư bao gồm: chế biến sản phẩm nông nghiệp; sản xuất các sản phẩm cao su; các sản phẩm từ dầu cọ; hóa chất và hóa phẩm dầu khí; dược phẩm; đồ gỗ; bột giấy, giấy và bảng giấy; các sản phẩm từ bông vải sợi; may mặc; các sản phẩm sắt thép; kim loại không màu; máy móc, thiết bị và phụ kiện; các sản phẩm điện, điện tử; các thiết bị khoa học, đo lường chuyên nghiệp; các sản phẩm nhựa; thiết bị bảo vệ.

Kinh nghiệm cho Việt Nam

Giống như Thái Lan và Malaysia, Việt Nam đã và đang nỗ lực tạo một môi trường đầu tư hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài bằng nhiều chính sách ưu đãi khác nhau. Từ việc quản lý đầu tư nước ngoài và mô hình quản lý KCN tại Thái Lan, Malaysia cho thấy có những điểm tương đồng và khác biệt với Việt Nam cần nghiên cứu học tập và rút kinh nghiệm.

Về chính sách thu hút đầu tư nước ngoài

Cả hai nước Thái Lan và Malaysia đều xác định đầu tư nước ngoài là một nguồn lực cần được huy động và sử dụng hiệu quả. Vì vậy, Thái Lan, Malaysia xây dựng chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài phù hợp theo từng giai đoạn phát triển của quốc gia để đảm bảo nguồn lực này phục vụ tốt cho phát triển sản xuất trong nước, thông qua thực hiện các biện pháp như: kêu gọi đầu tư và chính sách ưu đãi đầu tư. Các cơ quan quản lý đầu tư tại hai quốc gia này có cơ chế hỗ trợ nhà đầu tư nước ngoài trong thực hiện thủ tục đầu tư, đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư, cụ thể là: ủy ban đầu tư Thái Lan (BOI), Cơ quan Phát triển Đầu tư Malaysia (MIDA) là đầu mối hướng dẫn nhà đầu tư thực hiện các thủ tục hành chính và thực hiện chức năng điều phối trong quá trình nhà đầu tư xin cấp các giấy phép khác (giấy phép sản xuất, giấy phép xây dựng nhà máy...).

Hiện nay, Thái Lan, Malaysia đều đẩy mạnh thu hút các dự án đầu tư công nghệ cao, dành các ưu đãi đầu tư đặc biệt cho các loại dự án này. Theo đó, để cạnh tranh được với các quốc gia này trong thu hút các dự án công nghệ cao, Việt Nam cần nghiên cứu để có những thay đổi phù hợp trong chính sách ưu đãi đầu tư cho dự án công nghệ cao.

Ngoài ra, Thái Lan đang có chính sách khuyến khích đầu tư ra nước ngoài. Đây là cơ hội để Việt Nam thu hút các nhà đầu tư có tiềm năng của Thái Lan để phát triển những ngành sản xuất trong nước mà nước ta còn chưa cạnh tranh so với nước bạn như nông nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng...

Việc quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài tại Thái Lan, Malaysia tập trung và thống nhất tại cơ quan cấp trung ương, liên bang (MIDA, BOI), không phân cấp cho chính quyền địa phương. Việc tập trung này thuận lợi cho việc thực hiện cung cấp dịch vụ hành chính cho nhà đầu tư và triển khai các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài cấp quốc gia.

Về ưu đãi đầu tư

Ưu đãi đầu tư tại Thái Lan tương tự như Việt Nam, bao gồm ưu đãi đầu tư theo địa bàn và lĩnh vực. Tuy nhiên, tiêu chí phân loại địa bàn ưu đãi đầu tư của Thái Lan là theo khoảng cách từ vùng ưu đãi tới thủ đô Băng Cốc, chia thành 03 vùng: vùng 1, vùng 2, vùng 3, trong đó, vùng 3 được hưởng ưu đãi đầu tư cao nhất. Ngược lại, ưu đãi đầu tư tại Malaysia chỉ thiết kế theo lĩnh vực, tập trung cho sản xuất công nghiệp. Điểm chung trong chính sách ưu đãi đầu tư của Việt Nam, Thái Lan, Malaysia là đều dành ưu đãi cao nhất cho dự án công nghệ cao.

Tại Thái Lan, Malaysia, ưu đãi đầu tư bao gồm cả ưu đãi bằng thuế và ưu đãi phi thuế. Về mức độ ưu đãi, ưu đãi thuế mà Việt Nam dành cho các nhà đầu tư không kém hấp dẫn hơn ưu đãi đầu tư của Thái Lan, Malaysia. Cụ thể, về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN): theo Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013, dự án đầu tư mới tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế 04 năm, giảm 50% trong 09 năm tiếp theo; tại Thái Lan, dự án đầu tư trong vùng 3 (địa bàn hưởng ưu đãi đầu tư cao nhất) được hưởng miễn thuế TNDN trong 08 năm, không được hưởng ưu đãi thuế suất (thuế suất thuế TNDN phổ thông tại Thái Lan là 20%); tại Malaysia, dự án đầu tư công nghệ cao được hưởng thời gian miễn thuế từ 10 đến 15 năm, không được hưởng ưu đãi về thuế suất (thuế suất thuế TNDN phổ thông tại Malaysia là 25%).

Điểm khác nhau giữa chính sách ưu đãi đầu tư của Thái Lan, Việt Nam và Malaysia là: đối với một số dự án mục tiêu, Chính phủ Malaysia cho phép Cơ quan Phát triển Đầu tư Malaysia đàm phán trực tiếp gói ưu đãi đầu tư với nhà đầu tư. Vì vậy, trong một số trường hợp cần đặc biệt thu hút đầu tư, MIDA có thể xây dựng những chính sách hỗ trợ linh hoạt và tốt nhất cho nhà đầu tư.

Về thủ tục đầu tư

Tương tự quy định pháp luật của Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài triển khai dự án đầu tư tại Thái Lan, Malaysia đều phải thực hiện thủ tục đầu tư với quy trình chặt chẽ, có sự tham gia cấp phép, thẩm định của nhiều Bộ chuyên ngành. Tại Thái Lan, có khoảng trên 20 cơ quan của Chính phủ Thái Lan tham gia vào quy trình thẩm định, thành lập doanh nghiệp để thực hiện đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, quy trình thủ tục đầu tư tại Thái Lan, Malaysia có điểm khác với thủ tục đầu tư tại Việt Nam là: cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư (MIDA, BOI) cấp riêng giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư cho nhà đầu tư, không gộp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư và giấy đăng ký kinh doanh thành giấy chứng nhận đầu tư như quy định tại pháp luật về đầu tư của Việt Nam.

Ngoài giấy đăng ký kinh doanh, nhà đầu tư nước ngoài cũng cần phải xin thêm giấy phép kinh doanh (business license) do Bộ Công nghiệp Thái Lan cấp và giấy phép sản xuất (manufacturing license) do MIDA Malaysia cấp. Tại Việt Nam, chỉ một số lĩnh vực kinh doanh có điều kiện mới yêu cầu phải có giấy chứng nhận đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh trước khi đi vào hoạt động kinh doanh. Như vậy, trong vấn đề này, quy định của Việt Nam có thông thoáng hơn so với Thái Lan, Malaysia.

Trong quá trình triển khai dự án đầu tư, nhà đầu tư tại Thái Lan, Malaysia phải tuân thủ các tiêu chuẩn về xây dựng, bảo vệ môi trường... Cụ thể: tại Thái Lan, nhà đầu tư phải có giấy phép xây dựng trước khi xây dựng nhà máy.

Đầu tư nước ngoài 2015

Nỗ lực cải cách thể chế và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam sẽ là nền tảng duy trì sự ổn định và tăng trưởng thu hút đầu tư nước ngoài trong năm 2015.
dau-tu-nuoc-ngoai-2015

Theo báo cáo của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia về tình hình kinh tế năm 2014 và triển vọng năm 2015, mục tiêu tăng trưởng 6,2% trong năm 2015 là hoàn toàn khả thi. Trong đó thu hút đầu tư vốn trực tiếp nước ngoài FDI ngày càng đóng vai trò quan trọng, trở thành động lực góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của kinh tế đất nước. Nỗ lực cải cách thể chế và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam sẽ là nền tảng duy trì sự ổn định và tăng trưởng của FDI trong năm 2015. Đây là nhận định chung của rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã và đang rót vốn vào Việt Nam.

Tháng 10/2014, Nhà máy sản xuất lốp của Tập đoàn Bridgestone, Nhật Bản có tổng vốn đầu tư trên 1,2 tỷ USD đã được khánh thành tại Khu công nghiệp Đình Vũ, Hải Phòng. Dự án đã làm tăng niềm tin, sự hấp dẫn trong môi trường đầu tư của Hải Phòng nói riêng và Việt Nam nói chung.

Ông Masaaki, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Bridgestone cho biết: "Khi tìm kiếm địa điểm đầu tư, chúng tôi xét đến các yếu tố: cơ sở hạ tầng, điều kiện trị an, nguồn lao động và các chi phí. Sau khi nghiên cứu, tôi thấy Việt Nam rất phù hợp, cụ thể là Hải Phòng. Trong năm 2015, chúng tôi sẽ tiếp tục đẩy mạnh sản xuất và tuyển thêm lao động Việt Nam để nâng cao sản lượng, xuất khẩu tới nhiều nước trên thế giới".

Trong khi đó, tỉnh Hà Tĩnh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam như Đồng Nai, Bình Dương và TP.HCM lại là điểm đến của nhiều doanh nghiệp FDI, trong đó phải kể đến Đài Loan (Trung Quốc). Hiện nay, Đài Loan xếp vị trí thứ 5/60 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Vị trí này được các nhà đầu tư Đài Loan kỳ vọng sẽ thăng hạng trong năm 2015.

Ông Huang Chih Peng, Trưởng đại diện Văn phòng Kinh tế Văn hóa Đài Bắc tại Việt Nam cho biết: "Các nhà đầu tư Đài Loan vẫn tin tưởng vào môi trường đầu tư tại Việt Nam. Tôi cho rằng năm 2015 Việt Nam sẽ nắm bắt được rất nhiều cơ hội, bởi Việt Nam hiện nay đang tiến hành nhiều cải cách có hiệu quả, nhất là trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại. Trong năm 2014, rất nhiều các doanh nghiệp lớn của Đài Loan đã đến Việt Nam khảo sát và quyết định đầu tư tại đây. Năm 2015 con số này sẽ còn tiếp tục tăng".

Các chuyên gia cũng tin tưởng rằng sẽ có những bước đột phá trong thu hút đầu tư FDI trong năm 2015.

Ông Nguyễn Minh Phong, một chuyên gia kinh tế nhận định: "Có thể dự báo trên rất nhiều cơ sở rằng năm 2015 cơ hội đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài rất rộng mở và thậm chí có nhiều bất ngờ. Điều này gắn liền với 2 nhân tố lớn, một là Việt Nam có sự cải thiện rất căn bản về môi trường đầu tư, nhờ những điều chỉnh về luật đầu tư, luật doanh nghiệp cũng như giảm thuế, giảm lãi suất và rất nhiều yếu tố giúp giảm chi phí cho các doanh nghiệp đầu tư. Thứ hai là gắn liền với cơ hội mới do việc ký kết và triển khai FTA. Chúng tôi tin rằng những nhà đầu tư nước ngoài nhanh nhạy sẽ nắm bắt được rất nhiều cơ hội, trong đó có cả cơ hội về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, dự án bất động sản và các dự án khác".

Đại diện Cục Đầu tư nước ngoài cho biết, trong thời gian tới sẽ tiếp tục có các chính sách thu hút đầu tư FDI, ưu đãi cho các doanh nghiệp. Xu hướng sắp tới sẽ hướng đến chuyển giao công nghệ nguồn, sản xuất ở chuỗi giá trị cao hơn, nâng cao công tác quản lý... để áp dụng vào thực tế, tăng nội lực cho nền kinh tế Việt Nam.
Theo:vtv